7 tháng 9, 2012

Bắc hành tạp lục - Chu phát


132. Chu phát 

Khứ biến đông nam lộ
Thông thông tuế dục chu
Sử tòng Giang Hán khẩu
Lai phiếm Động Đình chu
Nhân bỉ lai thì sấu
Giang đồng khứ nhật thu
Hạc lâu thành vịnh xứ
Bạch vân không du du

舟發
去遍東南路
匆匆歲欲週
使從江漢口
來泛洞庭舟
人比來時瘦
江同去日秋
鶴樓成詠處
白雲空悠悠

Dịch nghĩa
Thuyền ra đi
Đi khắp đường đông nam
Thấm thoát năm gần hết
Thuận theo cửa sông Giang Hán
Dong thuyền qua hồ Động Đình
Người gầy hơn so với lần đến
Sông vẫn là thu ngày trước
Ở chỗ vịnh thơ lầu thơ hạc cũ
Mây trắng cứ lững lờ trôi

Đông nam đi khắp xứ tầu
Mới đây thấm thoát đã hầu một năm
Cửa sông Giang Hán xuôi dòng
Động Đình hồ đẹp thuyền rồng rong chơi
Trở về gầy rạc tả tơi
Gió thu năm ngoái vẫn chơi trên dòng
Lầu thơ Hoàng Hạc bên sông
Trên trời mây trắng mênh mông hững hờ

Đi khắp đường đông nam
Thấm thoát gần hết năm
Tiện suôi sông Giang Hán
Rong ruổi Động Đình êm
Người ốm hơn năm ngoái
Cảnh thu đồng nước yên
Chỗ làm thơ vịnh hạc
Mây trắng trôi êm đềm 

Bắc hành tạp lục - Hoàng Mai đạo trung


131. Hoàng Mai đạo trung 

Ngô sơn hành dĩ biến
Sở sơn lai cánh đa
Đáo đắc thanh sơn tận
Kì như bạch phát hà
Hành Nhạc tuyết sơ tễ
Động Đình xuân thủy ba
Kế trình tại tam nguyệt 
Do cập tường vi hoa

黃梅道中
吳山行已遍
楚山來更多
到得青山盡
其如白髮何
衡岳雪初霽
洞庭春水波
計程在三月
猶及薔薇花

Dịch nghĩa
Trên đường Hoàng Mai
Núi nước Ngô đã đi khắp
Đến nước Sở, núi càng nhiều
Đến được chỗ tận cùng núi xanh
Đầu bạc biết sao bây giờ
Đến Hành Dương, Nhạc Dương, tuyết vừa tạnh
Hồ Động Đình, nước xuân sóng sánh
Tính đường đi, tháng ba về tới
Còn kịp thấy hoa tường vi

Núi Ngô ta đã đi cùng
Núi non nước Sở ngàn trùng cũng qua
Tận cùng xanh thẳm sơn hà
Bơ phờ đầu bạc biết là làm sao
Tuyết ngừng Hành Nhạc núi cao
Động Đình sóng gợn biết bao xuân mà
Tính đường về đến tháng ba
Tường vi còn kịp thấy hoa khoe màu

Núi Ngô đã đi khắp
Núi non Sở xiết bao
Đến được núi xanh tận
Bạc đầu biết nói sao
Hành, Nhạc tuyết vừa tạnh
Động Đình xuân lại qua
Tính đường tháng ba tới
Kịp thấy tường vi hoa 

Bắc hành tạp lục - Hoàng Mai sơn thượng thôn


130. Hoàng Mai sơn thượng thôn 

Sơn hạ hữu trường tùng
Sơn thượng hữu diêu thôn
Sơn hạ trường tùng sao
Chính đương sơn thượng môn
Môn nội sở cư nhân
Cùng niên hà sở vi
Nữ sự duy tích ma
Kì nam nghiệp vân tỉ 
Vân tỉ cẩu đắc nhàn
Há sơn phạt tùng chi
Liêu dĩ túc quan thuế
Bất sự thư dữ thi
Thôi tô nhất bất đáo
Kê khuyển giai hi hi
Mật thạch ngại xa mã
Tạp hoa đương tuế thì
Sơn ngoại hưng dữ phế
Sơn trung giai bất tri
Toán lai nhất niên trung
Sở ưu vô nhất thì
Sở dĩ sơn trung nhân
Nhân nhân giai kỳ di 
Tùng hoa bách tử khẳng hứa thực
Bạch đầu khứ thử tương an quy

黃梅山上村
山下有長松
山上有遙村
山下長松梢
正當山上門
門內所居人
窮年何所為
女事惟績麻
其男業耘耔
耘耔苟得閒
下山伐松枝
聊以足官稅
不事書與詩
催租一不到
雞犬皆熙熙
密石礙車馬
雜花當歲時
山外興與廢
山中皆不知
算來一年中
所憂無一時
所以山中人
人人皆其頤
松花柏子肯許食
白頭去此將安歸

Dịch nghĩa
Xóm núi Hoàng Mai
Dưới chân núi có tùng cao
Trên núi có xóm xa
Ngọn tùng cao dưới núi
Cao ngang cổng trên núi
Người ở trong cổng ấy
Quanh năm làm gì?
Việc đàn bà chỉ là xe sợi gai
Việc đàn ông là cầy cấy
Cầy cấy, lúc nhàn rỗi
Xuống núi chặt cành tùng
Lo đủ thuế nộp cho quan
Không bận sách cùng thơ
Quan đòi thuế mà không đến
Gà chó vui phởn phơ
Đá kín dầy cản xe ngựa
Các loại hoa cho biết mùa trong năm
Sự hưng phế bên ngoài núi
Người ở trong núi đều không biết
Tính lại suốt năm
Chẳng bao giờ lo âu
Cho nên người trong núi
Người người sống lâu trăm tuổi
Hoa tùng quả bách mà ăn được
Khi bạc đầu, không về đây còn đi đâu nữa

Tùng cao vời vợi núi cao
Một làng nho nhỏ đường vào núi non
Cây tùng chân núi ví von
Vươn cao lên đến cổng con trước làng
Trong làng thử hỏi người dân
Làm sao sinh sống quanh năm bốn mùa
Gái thời xe sợi thêu thùa
Trai thời cầy cấy đúng mùa doanh thu
Rỗi cầy nhàn hạ lắm ru
Chặt tùng dưới núi gom thu về nhà
Thuế vua vừa đủ gọi là
Văn chương thi phú có mà biết đâu
Nếu mà thuế vụ chẳng vào
Con gà con chó con nào cũng vui
Cản xe có đá đen thui
Đưa tin mùa tới đã thời có hoa
Bên ngoài hưng thịnh can qua
Ở trong làng núi có mà biết đâu
Sống đời chẳng chút lo âu
Xuôi dòng nhân thế chảy hoài quanh năm
Trong làng tất cả người dân
Sống lâu mạnh khoẻ an nhàn thảnh thơi
Hoa tùng quả bách trên đời
Nếu mà ăn được đây thời cõi tiên

Bắc hành tạp lục - Sở kiến hành


129. Sở kiến hành 

Hữu phụ huề tam nhi
Tương tương tọa đạo bàng
Tiểu giả tại hoài trung
Ðại giả trì trúc khuông
Khuông trung hà sở thịnh
Lê hoắc tạp tì khang
Nhật án bất đắc thực
Y quần hà khuông nhương
Kiến nhân bất ngưỡng thị
Lệ lưu khâm lang lang
Quần nhi thả hỉ tiếu
Bất tri mẫu tâm thương
Mẫu tâm thương như hà
Tuế cơ lưu dị hương
Dị hương sảo phong thục
Mễ giá bất thậm ngang
Bất tích khí hương thổ
Cẩu đồ cứu sinh phương
Nhất nhân kiệt dung lực
Bất sung tứ khẩu lương
Duyên nhai nhật khất thực
Thử kế an khả trường
Nhãn hạ ủy câu hác
Huyết nhục tự sài lang
Mẫu tử bất túc tuất
Phủ nhi tăng đoạn trường
Kỳ thống tại tâm đầu
Thiên nhật giai vị hoàng
Âm phong phiêu nhiên chí
Hành nhân diệc thê hoàng
Tạc tiêu Tây Hà  dịch
Cung cụ hà trương hoàng
Lộc cân tạp ngư xí
Mãn trác trần trư dương
Trưởng quan bất hạ trợ
Tiểu môn chỉ lược thường
Bát khí vô cố tích
Lân cẩu yếm cao lương
Bất tri quan đạo thượng
Hữu thử cùng nhi nương
Thùy nhân tả thử đồ
Trì dĩ phụng quân vương

所見行
有婦攜三兒
相將坐道旁
小者在懷中
大者持竹筐
筐中何所盛
藜藿雜枇糠
日晏不得食
衣裙何框禳
見人不仰視
淚流襟浪浪
群兒且喜笑
不知母心傷
母心傷如何
歲饑流異鄉
鄉稍豐熟
米價不甚昂
不惜棄
鄉土
苟圖救生方
一人竭傭力
不充四口糧
沿街日乞食
此計安可長
眼下委溝壑
血肉飼豺狼
母死不足恤
撫兒增斷腸
奇痛在心頭
天日皆為黃
陰風飄然至
行人亦悽惶
昨宵西河驛
供具何張黃
鹿筋雜魚翅
滿棹陳豬羊
長官不下箸
小們只略嘗
撥棄無顧惜
鄰狗厭膏粱
不知官道上
有此窮兒娘
誰人寫此圖
持以奉君王

Dịch nghĩa
Những điều trông thấy
Có người đàn bà dắt ba đứa con
Cùng nhau ngồi bên đường
Ðứa nhỏ trong bụng mẹ
Ðứa lớn cầm giỏ tre
Trong giỏ đựng gì lắm thế?
Rau lê, hoắc lẫn cám
Qua trưa rồi chưa được ăn
Áo quần sao mà rách rưới quá
Thấy người không ngẩng nhìn
Nước mắt chảy ròng ròng trên áo
Lũ con vẫn vui cười
Không biết lòng mẹ đau
Lòng mẹ đau ra sao?
Năm đói lưu lạc đến làng khác
Làng khác mùa màng tốt hơn
Giá gạo không cao quá
Không hối tiếc đã bỏ làng đi
Miễn sao tìm được phương tiện sống
Một người làm hết sức
Không đủ nuôi bốn miệng ăn
Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày
Cách ấy làm sao kéo dài mãi được
Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh
Máu thịt nuôi lang sói
Mẹ chết không thương tiếc
Vỗ về con càng thêm đứt ruột
Trong lòng đau xót lạ thường
Mặt trời vì thế phải vàng uá
Gió lạnh bỗng ào tới
Người đi đường cũng đau đớn làm sao
Ðêm qua ở trạm Tây Hà
Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức
Gân hươu cùng vây cá
Ðầy bàn thịt heo, thịt dê
Quan lớn không thèm đụng đũa
Ðám theo hầu chỉ nếm qua
Vứt bỏ không luyến tiếc
Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
Không biết trên đường cái
Có mẹ con đói khổ nhà này
Ai người vẽ bức tranh đó
Ðem dâng lên nhà vua


Một tay mẹ dắt ba con
Cùng nhau ngồi cạnh bên đường cái quan
Nhỏ thời trong bụng mẹ nằm
Rổ tre em lớn tay cầm tay mang
Bên trong lắm thứ lăng nhăng
Rau lê rau hoắc chộn chung cám vàng
Trưa rồi bụng chẳng hột cơm
Áo quần tơi tả thảm thương rụng rời
Mặt đâu dám ngẩng nhìn đời
Âu sầu vạt áo lệ rơi đôi dòng
Các con cười nói ung dung
Thấy đâu lòng mẹ đau thương não nề
Lòng rầu sầu héo trăm bề
Tha phương cầu thực bỏ quê bỏ nhà
Nơi đâu thu hoạch đậm đà
Để cho giá gạo không là quá cao
Chỉ mong đủ sống xít sao
Cho dù bỏ xứ có nào dám than
Một tay kiệt sức tảo tần
Cũng không nuôi đủ bốn phần miệng ăn
Thôi đành khất thực xin cơm
Cách này tuy dở nhưng còn hơn không
Một mai bỏ xác bên sông
Thịt thì cọp đớp máu hồng sói xơi
Thân già mẹ chết thì thôi
Ôm con đứt ruột trời ơi là trời
Lòng đau gan rối bụng rời
Bầu trời ủ rũ nắng rơi héo vàng
Gió đâu hơi lạnh thổi tràn
Khách qua đường cũng nát tan cõi lòng
Trạm Tây Hạ mở liên hoan
Cực kỳ xa xỉ mâm bàn cỗ cao
Vây cá cùng với hươu sao
Đầy bàn dê lợn và gà mái tơ
Quan to ngài chăng thèm rờ
Quân hầu bên cạnh giả vờ nếm qua
Tiện tay quẳng thật rõ xa
Bỏ không luyến tiếc thịt thà chó chê
Nào hay trên bước đường quê
Mẹ con cùng quẩn tái tê dường này
Tranh này ai vẽ cho hay
Dâng lên thánh thượng cho ngài được xem

Bắc hành tạp lục - Tây Hà dịch


128. Tây Hà dịch 

Thanh thạch kiều tây ngạn
Y nhiên tiểu lí lư
Đạo bàng nhân ngữ tạp
Ốc hậu trúc âm sơ
Hòa bản cung thần thiếu
Xuân liên đãi tuế trừ
Tương phùng vô biệt thoại
Nhất tiếu ý hà như

西河驛
青石橋西岸
依然小里閭
道傍人語雜
屋後竹陰疏
禾本供晨燒
春聯待
歲除
相逢無別話
一笑意何如

Dịch nghĩa
Trạm Tây Hà
Bên bờ phía tây cầu đá xanh
Xóm nhỏ vẫn như cũ
Bên đường tiếng người tạp nhạp
Sau nhà bóng trúc thưa
Gốc rạ dành để đốt lửa sớm
Câu đối xuân chờ hết năm cũ
Gặp nhau không nói năng gì
Chỉ cười, ý ra sao

Bến tây cầu đá xanh lơ
Còn y xóm nhỏ đứng trơ giữa trời
Bên đường tiếng gọi bời bời
Sau nhà giậu trúc lưa thưa vài hàng
Đốt lò gốc rạ làm than
Giao thừa câu đối đón xuân trở về
Gặp nhau chẳng nói giả từ
Chỉ hơi nhoẻn miệng cười trừ mà thôi

Cầu đá xanh bờ tây
Y nguyên con xóm nhỏ
Bên đường người lải nhải
Sau giậu trúc lơ thơ
Gốc rạ bếp ban mai
Đối xuân đợi tết về
Gặp nhau không muốn nói
Nhoẻn miệng cười vu vơ

Bắc hành tạp lục - Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài

127. Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài 

Lương triều Chiêu Minh thái tử phân kinh xứ
Thạch đài do kí "Phân kinh" tự
Đài cơ vu một vũ hoa trung
Bách thảo kinh hàn tận khô tử
Bất kiến di kinh tại hà sở
Vãng sự không truyền Lương thái tử
Thái tử niên thiếu nịch ư văn
Cưỡng tác giải sự đồ phân phân
Phật bản thị không, bất trước vật
Hà hữu hồ kinh an dụng phân
Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa
Thục vi Kim Cương, vi Pháp Hoa 
Sắc không cảnh giới mang bất ngộ
Si tâm quy Phật, Phật sinh ma
Nhất môn phụ tử đa giao tế
Nhất niệm chi trung ma tự chí
Sơn lăng bất dũng liên hoa đài
Bạch mã triêu độ Trường Giang thủy
Sở lâm họa mộc trì ương ngư 
Kinh quyển thiêu hôi đài diệc dĩ
Không lưu vô ích vạn thiên ngôn
Hậu thế ngu tăng đồ quát nhĩ
Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn
Thuyết pháp độ nhân như Hằng Hà sa số 
Nhân liễu thử tâm nhân tự độ
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu
Minh kính diệc phi đài 
Bồ Đề bản vô thụ 
Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kì trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo Phân kinh thạch đài hạ
Chung tri vô tự thị chân kinh 

梁昭明太子分經石臺
梁朝昭明太子分經處
石臺猶記分經字
臺基蕪沒雨花中
百草驚寒盡枯死
不見遺經在何所
往事空傳梁太子
太子年少溺菸文
強作解事徒紛紛
佛本是空不著物
何有乎經安用分
靈文不在言語科
孰為金剛為法華
色空境界茫不悟
癡心歸佛佛生魔
一門父子多膠蔽
一念之中魔自至
山陵不涌蓮花臺
白馬朝渡長江水
楚林禍木池殃魚
經卷燒灰臺亦圯
空留無益萬千言
後世愚僧徒聒耳
吾聞世尊在靈山
說法渡人如恆河沙數
人了此心人自渡
靈山只在汝心頭
明鏡亦臺
菩提本無樹
我讀金剛千遍零
其中奧旨多不明
及到分經石臺下
終知無字是眞經


Dịch nghĩa
Đài đá Chia kinh của thái tử Chiêu Minh nhà Lương
Nơi Chiêu Minh thái tử triều Lương chia kinh
Đài đá còn ghi chữ "Chia kinh"
Nền đài gai góc lấp trong mưa bụi
Trăm loài cỏ sợ lạnh đều chết khô hết
Không thấy kinh còn lại nơi đâu
Chỉ nghe kể chuyện thời xưa
Lương thái tử thời niên thiếu say mê văn chương
Gượng bày đặt phân tách chi ly rắc rối
Phật vốn là không, chẳng vướng vào vật
Có gì tùy thuộc vào kinh mà chia với phân?
Văn thiêng không phải nhờ khoa ngôn ngữ
Cái gì là kinh Kim Cương, cái chi là kinh Pháp Hoa?
Cảnh giới Sắc Không mờ mịt không hiểu
U mê mà theo Phật thì Phật sinh ra ma
Cha con một nhà cùng mù quáng hết
Chỉ trong một niệm, ma tự đến
Ở nơi lăng núi không có đài sen nổi lên
Một sớm ngựa trắng vượt sông Trường Giang
Rừng nước Sở cháy, cây gặp tai họa, cá trong ao bị vạ
Kinh cháy ra tro, đài cũng đổ
Muôn nghìn lời để lại đều vô ích
Chỉ để cho đám sư ngu dốt đời sau tụng đọc điếc tai
Ta nghe nói đức Thế Tôn tại Linh Sơn
Thuyết Pháp cứu người nhiều như cát sông Hằng
Người hiểu tâm này, người tự độ
Linh Sơn chính ở tại lòng ta
Gương sáng không có đài
Bồ đề vốn không cây
Ta đọc Kinh Kim cương hơn nghìn lần
Nhiều yếu chỉ sâu sắc trong đó ta không rõ
Đến nay, dưới đài đá "Chia kinh"
Mới hiểu kinh "không chữ" mới thật là chân kinh

Triều Lương thái tử Chiêu Minh
Tại nơi đài đá chia kinh phổ truyền
“Chia kinh” đá khắc rõ ràng
Nền đài gai mọc bập bùng gió mưa
Cỏ dầy sợ lạnh chết khô
Kinh xưa truyền lại biết đâu nơi nào
Chỉ nghe kể chuyện đã lâu
Thiếu thời thái tử đạo mầu say mê
Lạm bàn chú thích lê thê
Phật ngài vốn chẳng chấp nê chuyện đời
Tại sao chia cắt rối bời
Kinh văn nào phải ở lời khoa trương
Pháp Hoa cùng với Kim Cương
Sắc Không cảnh giới mênh mông mịt mù
Tâm mê đọc phật ra ma
Cha con một duộc đúng là bị đui
Niệm sinh tính phật chôn vùi
Đắm chìm đồi núi ngậm ngùi đài sen
Một hôm ngựa vượt Trường Giang
Cây rừng nước Sở bừng bừng cháy tan
Kinh tiêu đài cũng lụi tàn
Muôn ngàn chữ nhảm chỉ toàn điếc tai
Sư ngu đọc tụng đêm ngày
Linh Sơn phật tổ giải bày nghĩa kinh
Độ Hằng sa số thiện nhân
Đạo mầu cốt ở chữ tâm trong lòng
Lòng mình chính thật Linh Sơn
Nào đâu gương sáng đài son gác vàng
Bồ đề cây đó vốn không
Kim cương đọc tụng có hơn ngàn lần
Nghĩa kinh mờ mịt mơ màng
Dưới nền đài cũ bỗng bừng tỉnh ra
Chân kinh thực sự đó mà
Không hề có chữ chính là lòng ta

Bắc hành tạp lục - Đào Hoa dịch đạo trung


125. Đào Hoa dịch đạo trung kỳ 1 

Tiềm Sơn bát bách lý,
Tây tiếp Sở sơn vân.
Cổ thạch sấu như quỷ,
Tân tùng trường tỷ nhân
Vạn huề nghi thục mạch,
Thập nhật cách phong trần.
Bạch Liên Hà Bắc sơn,
Sơn trung như bất văn.

桃花驛道中其一
潛山入百里
西接楚山雲
古石瘦如鬼
新松長比人
萬畦宜菽麥
十日隔風塵
白連河北山
山中如不聞

Dịch nghĩa
Trên đường đến trạm Đào Hoa bài 1
Trạm Đào Hoa cách Tiềm Sơn tám trăm dặm,
Phía tây tiếp liền mây núi Sở.
Đá cổ gầy như quỉ,
Thông non cao bằng người.
Vạn khoảng ruộng, dâu lúa đều tốt.
Đã mười ngày xa gió bụi,
Qua dãy Bạch Liên ở Hà Bắc,
Trong núi vắng lặng như không nghe thấy gì.

Tiềm Sơn tám trăm dặm dài
Phía tây nước Sở núi mây sửng sờ
Đá gầy như quỷ vật vờ
Thông cao tầm thước mịt mờ khói sương
Lúa đầy thẳng tắp cánh đồng
Mười ngày cách biệt bụi hồng đường khuya
Bạch Liên Hà Bắc trông kìa
Núi sâu thăm thẳm còn chưa nghe gì

Tiềm Sơn tám trăm dặm
Tây nối Sở non mây
Đá cổ gầy như quỷ
Tùng cao vừa khổ người
Ruộng đầy dâu lúa tốt
Mười bữa khỏi bụi vây
Núi Bạch Liên Hà Bắc
Non sâu chẳng nghe tày

126. Đào Hoa dịch đạo trung kỳ 2 

Kê khuyển xuất tang ma,
Duyên khê tiểu kính tà.
Sơn điền thường tích thuỷ,
Dã phạn bán hàm sa
Thạch ẩn cao nhân ốc,
Trần tuỳ quí giả xa
Cô yên tại thiên mạt,
Kim dạ túc thùy gia?

桃花驛道中其二
雞犬出桑麻
沿溪小逕斜
山田常積水
野飯半含沙
石隱高人屋
塵隨貴者車
孤煙在天末
今夜宿誰家

Dịch nghĩa
Trên đường đến trạm Đào Hoa bài 2
Gà chó từ đám dâu chạy ra.
Một lối nhỏ chênh chếch men theo khe.
Ruộng núi thường chứa nước.
Bữa cơm ngoài đồng lẫn cát sạn.
Đá che lấp nhà người cao sĩ,
Bụi bám theo xe người sang trọng.
Ngọn khói lẻ loi tận chân trời,
Đêm nay biết nghỉ nhà ai ?

Bụi gai chó chạy gà bay
Bên khe lối nhỏ dốc ngay gần nhà
Nước đầy ruộng ũng rồi mà
Cơm đồng lắm sạn thật là khó ăn
Núi sâu ẩn bậc cao nhân
Dập dình ngựa chạy bụi vàng dấu xe
Chân trời khói lẻ lê thê
Đêm khuya thanh vắng biết về nhà ai

Gà chó bụi dâu ra
Bên khe lối nhỏ tà
Nương cao thường ũng nước
Cơm ruộng sạn nhiều mà
Núi rộng cao nhân ẩn
Xe sang kéo bụi mờ
Khói bay tận chân trời
Đêm vắng về đâu ở